Nguyên nhân gây bệnh viêm quanh răng là gì?

Nguyên nhân gây bệnh quanh răng
Nguyên nhân gây bệnh quanh răng

Bệnh quanh răng (còn gọi là bệnh nha chu) là một trong những bệnh răng miệng gặp phổ biến nhất ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới. Đó là tình trạng nhiễm trùng mạn tính ảnh hưởng đến lợi và các tổ chức quanh răng.

Nguyên nhân gây bệnh quanh răng

Nguyên nhân chính gây bệnh quanh răng là sự tích tụ các vi khuẩn trong mảng bám răng và cao răng, gây ảnh hưởng lên lợi và tổ chức chống đỡ quanh răng. Khi quá trình này tiếp tục mà không được điều trị kịp thời thì răng sẽ bị lung lay, hình thành túi quanh răng giữa lợi và răng, tạo điều kiện cho vi khuẩn tích tụ nhiều hơn. Ngoài ra, các yếu tố như chấn thương khớp cắn, răng mọc lệch…hay các yếu tố toàn thân như suy dinh dưỡng, thiếu vitamin (đặc biệt là vitamin C); thay đổi nội tiết tố ở tuổi dậy thì, thai nghén và cho con bú, có các bệnh toàn thân như bệnh tiểu đường, bệnh máu, bệnh tim mạch; sức đề kháng yếu, hút thuốc lá… cũng góp phần làm cho tình trạng viêm tiến triển nặng thêm.

Các loại bệnh quanh răng thường gặp

Hai loại bệnh quanh răng gặp phổ biến nhất là viêm lợi và viêm quanh răng.

Khi mắc bệnh quanh răng, những dấu hiệu thường thấy là: lợi sưng phồng, đỏ, đau, chảy máu nhiều khi chải răng, hơi thở hôi, có thể có mủ chảy ra từ khe lợi, răng có thể bị thưa ra hoặc dài ra, thậm chí có thể thấy răng bị lung lay hoặc tự rụng ra.

Các loại bệnh quanh răng thường gặp
Các loại bệnh quanh răng thường gặp

Trong bệnh viêm lợi, tình trạng viêm chỉ xảy ra trên bề mặt lợi, không lan sâu xuống rãnh lợi và vùng quanh răng. Biểu hiện chủ yếu của viêm lợi là chảy máu khi chải răng, khi ăn thức ăn cứng hoặc khi xỉa răng, soi gương thấy lợi đỏ, sưng. Nếu không được chữa kịp thời, bệnh sẽ trở thành mạn tính và chuyển thành viêm quanh răng.

Trong bệnh viêm quanh răng, tổn thương lan sâu xuống các phần khác như các dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng. Hậu quả là răng lung lay hoặc có thể rụng. Triệu chứng viêm quanh răng cũng tương tự như viêm lợi, cộng thêm một số dấu hiệu khác như hôi miệng, ấn vuốt lợi từ dưới chân răng lên thấy có mủ, răng dài và thưa, lung lay, ảnh hưởng đến việc ăn nhai.

Cho đến nay, vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu nào điều trị bệnh quanh răng. Để việc điều trị có hiệu quả, điều kiện quan trọng đầu tiên là phát hiện bệnh sớm.

Bệnh viêm lợi thường có thể điều trị khỏi và dự phòng được bằng việc chải răng, sử dụng chỉ tơ nha khoa và nước súc miệng một cách thích hợp để loại bỏ mảng bám răng, lấy cao răng bằng dụng cụ cầm tay hoặc bằng máy siêu âm, sử dụng kháng thể để ức chế và tiêu diệt các vi khuẩn đặc hiệu gây bệnh.

Việc điều trị bệnh viêm quanh răng là một quy trình phức hợp bao gồm điều trị tại chỗ và toàn thân, điều trị khởi đầu và duy trì, điều trị bảo tồn và phẫu thuật…có thể kết hợp với điều trị bằng kháng sinh toàn thân, kháng sinh tại chỗ, thuốc chống viêm, giảm đau và các biện pháp khác để phòng tái phát.

Bệnh quanh răng là một bệnh không lây lan, nhưng nó ngấm ngầm hủy hoại xương ổ răng và lợi, làm răng mất chức năng ăn nhai và có thể gây mất răng. Do đó, việc khám răng miệng định kỳ thường xuyên (sáu tháng một lần) tại các cơ sở chuyên sâu về răng hàm mặt để có được lời khuyên của thầy thuốc trong việc chăm sóc răng miệng là rất cần thiết.

Gingivalis – Cơ chế gây bệnh viêm quanh răng

Đây là trực khuẩn Gram âm, kị khí, hình thoi, không di động, không có khả năng phân hủy saccharid. Trong môi trường thạch máu nuôi cấy, khuẩn lạc có màu nâu hoặc đen, các vi khuẩn đứng thành từng nhóm. Số lượng vi khuẩn P.gingivalis tăng cao trong các tổn thương viêm quanh răng, bị loại trừ trong những liệu pháp điều trị hữu hiệu, tăng kháng thể trong huyết thanh hay nước bọt ở các thể viêm quanh răng, sản xuất ra các độc tố gây hại tế bào gây tiêu xương và có khả năng gây bệnh thực nghiệm. Sự có mặt của P. gingivalis chỉ ra nguy cơ tiêu xương ổ răng và mất bám dính quanh răng. P. gingivalis cũng có khả năng xâm nhập sâu vào tổ chức liên kết vùng quanh răng nên có khả năng gây tái phát bệnh rất cao

Gingivalis – Cơ chế gây bệnh viêm quanh răng
Gingivalis – Cơ chế gây bệnh viêm quanh răng

gingivalisgây bệnh bằng cách sản xuất ra các độc tố như các polysaccharide, fimriae, hemaglutinin, chất gây tan huyết và các men phân hủy protein. Arg- và Lys-cystein protease (còn gọi là gingipains ) là những men phân hủy peptid quan trọng nhất do P.gingivalis tạo ra.

Trong số các yếu tố gây bệnh của P.gingivalis , Gingipains đóng vai trò then chốt trong quá trình tiến triển của bệnh viêm quanh răng ở người , đặc biệt làm tăng tích tụ vi khuẩn, ức chế đáp ứng bảo vệ của cơ thể, phá hủy mô và làm thay đổi hệ thống miễn dịch của cơ thể. Gingipains có khả năng phân hủy các protein của cơ thể như protein gian bào, các tế bào miễn dịch và cytokine, phân hủy fibrin và fibrinogen dẫn tới tình trạng chảy máu lợi , gây phá hủy mô quanh răng. Gingipains còn giúp P.gingivalis xâm nhập sâu vào mô quanh răng và ngấm vào máu gây các biến chứng toàn thân.

P.gingivalis là chủng không có hoạt tính ly giải saccharide mà lấy năng lượng và carbon từ việc len men các peptid và acid amin. Điều đó có nghĩa là để xâm nhập được vào vật chủ , vi khuẩn này cần phải cạnh tranh và khai thác các peptides sẵn có để tăng trưởng hoặc giáng hóa các protein của vật chủ để lấy peptides. Với hoạt tính phân hủy protein rất mạnh của các gingipains trong môi trường giàu protein ở khoang miệng chính là các điều kiện thận lợi cho sự sống còn của vi khuẩn này so với các vi khuẩn khác (Đặc biệt các gingipains cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho sự sống còn của P.gingivalis , bao gồm việc lấy amino acid từ protein của cơ thể, sắt từ hồng cầu).

Điều trị viêm quanh răng

Liệu pháp điều trị viêm quanh răng hữu hiệu phụ thuộc quá trình chống nhiễm trùng nhằm loại bỏ các tác nhân vi khuẩn gây bệnh có trên mảng bám răng ở trên răng cũng như trong khoang miệng. Điều trị chống nhiễm khuẩn bao gồm cả điều trị cơ học và điều trị bằng kháng sinh.

  • Điều trị cơ học gồm nạo chân răng bằng tay hoặc máy để lấy bỏ mảng bám, cao răng, độc tố và các tổ chức viêm hoại tử. Thuật ngữ điều trị cơ học bao gồm cả làm sạch trên và dưới lợi cũng như làm nhẵn mặt chân răng.

Biện pháp cơ học không thể loại bỏ được một số vi khuẩn gây bệnh như P.gingivalis do chúng có khả năng xâm nhập vào tổ chức quanh răng, các ống ngà hoặc tích tụ ở những nơi mà các dụng cụ điều trị không tới được (vùng chẽ, chỗ cong lồi của chân răng). Hơn nữa việc tái nhiễm có thể xảy ra do vi khuẩn còn tồn tại trong các tổ chức khác của khoang miệng.

  •  Điều trị bằng kháng sinh bao gồm việc đặt các chất kháng khuẩn tại chỗ hoặc các chất giải phóng từ từ tại chỗ nhằm làm hạn chế tích tụ mảng bám răng, diệt khuẩn trên bề mặt chân răng và tổ chức quanh răng lân cận.

Mặc dù kháng sinh được sử dụng khá thường xuyên trong việc kiểm soát viêm quanh răng nhưng các bằng chứng cho thấy chỉ có một số ít thực nghiệm lâm sàng được kiểm soát tốt khi so sánh hiệu quả của liệu pháp kháng sinh phối hợp với điều trị can thiệp đơn thuần. Việc sử dụng kháng sinh có thể chỉ mang lại lợi ích không đáng kể cho bện nhân trong khi về lâu dài có thể làm tăng sự nguy cấp của tình trạng kháng thuốc trong cộng đồng.

Điều trị viêm quanh răng
Điều trị viêm quanh răng
  • Ức chế gingipain

– Liệu pháp vaccine sử dụng kháng nguyên là gingipain: hiện vẫn chưa có đủ bằng chứng về bất cứ hiệu quả nào của vaccine chống lại các tác nhân gây viêm quanh răng.

– Sử dụng các chất ức chế đặc hiệu gingipains bao gồm các chất ức chế gingipains tổng hợp hoặc có nguồn gốc tự nhiên. Do độc tính chưa được xác định rõ của các chất ức chế gingipains tổng hợp , nên hiện vẫn chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được thực hiên. Ngược lại , với độ an toàn cao, các chất ức chế gingipain từ tự nhiên được coi là một liệu pháp điều trị viêm quanh răng hứa hẹn, gồm:

Polyphenol chiết xuất từ trà xanh

Polyphenol chiết xuất từ Cranberry hoặc từ các loại hạt như gạo

Kháng thể IgY (Yolk immunoglobulin – kháng thể từ lòng đỏ trứng)

Nếu sử dụng vaccine có kháng nguyên là gingipain được gọi là miễn dịch chủ động thì việc sử dụng kháng thể IgY trực tiếp chống lại men gingipain được bổ sung tại chỗ vào khoang miệng là liệu pháp miễn dịch thụ động. Kháng thể IgY thu được bằng cách : sử dụng gingipain làm kháng nguyên gây miễn dịch cho gà mái, kháng thể đặc hiệu chống gingipain được sản xuất và tích lũy trong lòng đỏ trứng gà , sau đó được tách chiết và làm tinh khiết.

Một thử nghiệm lâm sàng sử dụng kháng thể từ lòng đỏ trứng chống lại gingipain (IgY-PG của Nhật Bản là Ovalgen PG) trên 5 bệnh nhân bị viêm quanh răng mạn tính và có nồng độ P.gingivalis cao trong vùng dưới lợi (23). Dạng kem chứa Ovalgen PG được đưa trực tiếp vào túi lợi . Trước khi sử dụng Ovalgen PG, người ta làm sạch mảng bám và túi lợi trên bề mặt răng được thử . Nồng độ P.gingivalis trong các túi chân răng của tất cả các răng điều trị được biểu đạt bằng tỷ lệ % /tổng vi khuẩn xác định bằng PCR. Việc kết hợp giữa làm sạch mảng bám và túi chân răng với Ovalgen PG đã làm giảm được độ sâu của túi chân răng , chảy máu trong túi chân răng và nồng độ P.gingivalis tại thời điểm 4 tuần so với làm sach mảng bám và túi chân răng đơn thuần.

Một nghiên cứu khác đánh giá hiệu quả của Ovalgen PG trên 42 bệnh nhân viêm quanh răng sau khi làm sạch mảng bám và túi chân răng theo phương pháp lựa chọn ngẫn nhiên có nhóm đối chứng (24). Chia ngẫu nhiên các bệnh nhân chưa được điều trị viêm nha chu vào 2 nhóm sử dụng làm sạch mảng bám, túi chân răng và dung viên ngậm Ovalgen PG hoặc đối chứng . Các chỉ số lâm sàng được ghi nhận tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, sau 4 tuần và 12 tuần điều trị. Lựa chọn các túi chân răng sâu nhất và các mẫu được thu thập để đánh giá nồng độ vi khuẩn P.gingivalis bằng PCR. Có sự cải thiện ý nghĩa về độ sâu trung bình của túi chân răng ghi nhận ở nhóm dùng Ovalgen PG sau 12 tuần điều trị . Cùng với những thay đổi về lâm sàng , số lượng vi khuẩn P.gingivalis trong các mảng bám dưới lợi từ các túi sâu nhất cũng giảm đáng kể ở nhóm dùng Ovalgen PG.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng Ovalgen PG (kháng thể IgY ức chế gingipain của P. gingivalis) hàng ngày kết hợp với làm sạch mảng bám và túi chân răng ở các bệnh nhân viêm quanh răng mang lại kết quả lâm sàng tốt hơn đáng kể cũng như giảm số lượng vi khuẩn so với nhóm đối chứng. Do vậy, miễn dịch thụ động sử dụng Ovalgen PG có thể là một phưong pháp hiệu quả trong điều trị viêm nha chu.